,

Bố trí sử dụng không gian biển cho các ngành kinh tế ngoài khơi

Các nước Đông Nam Á (trong đó có Việt Nam) có nhu cầu phát triển điện gió ngoài khơi cao thứ 3 trong các khu vực địa lý, sau Trung Quốc và Tây Bắc Phi. Vì vậy, quy hoạch không gian biển cho ngành điện gió ngoài khơi của Việt Nam là rất cần thiết, phù hợp với xu hướng phát triển kinh tế xanh, chuyển dịch năng lượng xanh, hướng tới nền kinh tế Net Zero cac-bon vào năm 2050.

 

Xu hướng gia tăng điện gió ngoài khơi

Năm 2023, Tập đoàn DNV (Na Uy) - chuyên về chứng nhận, kiểm định lĩnh vực dầu khí, năng lượng và hàng hải - đã phát hành báo cáo triển vọng kinh tế biển toàn cầu “Ocean Future 2050”. Trong báo cáo, 6 ngành kinh tế biển cần nhiều vốn cho phát triển bao gồm: dầu khí, điện gió, đóng tầu, đánh bắt cá, nuôi biển, khử mặn. Trong đó, riêng ngành điện gió ngoài khơi được dự báo sẽ sử dụng khoảng 300.0000 km2 bề mặt biển, đại dương vào năm 2050.

Hiện nay, 80% vốn đầu tư cho ngành kinh tế biển thế giới là đến từ ngành dầu khí, trong đó chi tiêu cho gió ngoài khơi là không đáng kể. Tuy nhiên đến năm 2050, bức tranh kinh tế biển thế giới hoàn toàn khác khi gió ngoài khơi chiếm 50% vốn đầu tư và dầu khí sẽ giảm xuống chỉ còn 25%. Cũng xu thế gia tăng đến 2050 thì ngành nuôi trồng thủy sản sẽ tăng 1,5 lần và chiếm 3,4% và khử muối sẽ tăng gấp ba lần và chiếm 2,7% tổng vốn đầu tư của kinh tế biển. Đến năm 2050 ngành nuôi biển sẽ vượt ngành đánh bắt.

Một sự thay đổi về mặt địa lý trong vốn đầu tư kinh tế biển thế giới sẽ diễn ra trong những thập kỷ tới đến 2050. Trung Quốc sẽ có mức tăng trưởng ổn định từ mức 10% vốn đầu tư kinh tế biển toàn cầu hiện nay và gia tăng lên 26% vào năm 2050 và chiếm vị trí thống trị trong nền kinh tế biển thế giới. Bên cạnh đó, khu vực sẽ châu Âu sẽ duy trì vị thế tăng trưởng mạnh mẽ từ 11% lên 14% đến 2050. Vốn đầu tư kinh tế biển hàng năm sẽ giảm ở Trung Đông và Bắc Phi, cùng với nhu cầu nhiên liệu hóa thạch sẽ giảm.

 Xu thế phát triển các ngành kinh tế biển từ 1990 đến 2050 (nuôi biển, khử mặn, đóng tầu, dầu khí, đánh cá, điện gió)

Khu vực Đông Nam Á đứng thứ 7 và dự báo chiếm 8% vốn đầu tư kinh tế biển thế giới vào 2050, so với hiện nay là 5%.

Toàn bộ đại dương thế giới có diện tích là 360 triệu km2, và khoảng 140 triệu km2 thuộc vùng đặc quyền kinh tế của các quốc gia. Các quốc gia ven biển đều thực hiện Quy hoạch không gian biển quốc gia trong vùng biển của mình, đặc biệt là các vùng biển nông, gần bờ nơi có nhiều hoạt động kinh tế biển sôi động, đặc biệt các vùng biển có độ sâu dưới 50 m và khoảng cách từ bờ đến khoảng 50 km.

Diện tích biển cho khai thác dầu, khí trên đại dương thế giới gia tăng đến năm 2030 và có xu hướng giảm sau 2030 đến 2050. Các quốc gia đều chuyển dịch sang năng lượng xanh và khai thác dầu khí đều có xu hướng giảm sau 2030. Việt Nam cũng cần xem xét xu hướng giảm và điều chỉnh không gian cho các nghành kinh tế biển khác.

Xu hướng gia tăng mạnh diện tích cho điện gió ngoài khơi móng cố định, móng nổi từ sau 2020 với khoảng 10 ngàn km2, đến năm 2050 là hơn 300 ngàn km2 – tương đương diện tích tăng hơn 30 lần so với 2020.

Hoạt động năng lượng gió ngoài khơi tăng lên sẽ tạo ra việc làm mới và tăng trưởng mạnh mẽ. Bắt đầu từ mức việc làm thấp vào năm 2018, số người làm việc trong lĩnh vực gió ngoài khơi sẽ tăng gấp 250 lần vào năm 2050. 

Định hướng không gian biển kỹ thuật cho điện gió ngoài khơi tại Việt Nam

Không gian kỹ thuật cho điện gió ngoài khơi là không gian đáp ứng cho các tuabin phát điện tối đa công suất, phần diện tích mặt biển, cột nước biển vẫn có thể dùng cho các ngành kinh tế biển như hàng hải, du lịch và nghề cá sử dụng

Thời gian qua, nhóm các nhà khoa học thuộc Viện Khoa học môi trường, biển và hải đảo - Bộ Tài nguyên và Môi trường đã thực hiện nghiên cứu các khu vực xây dựng trang trại điện gió tiềm năng tại Việt Nam bằng công nghệ GIS kết hợp cho 12 tiêu chí: Tốc độ gió, mật độ năng lượng gió, địa hình đáy, khoảng cách đến các mỏ dầu/khí, khoảng cách đến các đường ống dẫn khí, khoảng cách đến các tuyến cáp internet ngầm, khoảng cách đến ngư trường một số nghề cá, khoảng cách đến các cảng biển, khoảng cách đến các tuyến hàng hải, khoảng cách đến các khu bảo tồn, khoảng cách đến vị trí đường bờ, khoảng cách đến các khu vực rùa biển kiếm ăn.

Trên cơ sở này, nhóm nghiên cứu đã thành lập bản đồ khu vực xây dựng các trang trại gió tiềm năng trong khu vực nghiên cứu, phản ánh tương đối đúng với bản đồ tiềm năng gió ngoài khơi tại Việt Nam trong phạm vi 200 km thuộc Chương trình hỗ trợ quản lý năng lượng của Ngân hàng thế giới công bố năm 2019.

Trong tổng hơn 600.000 km2 diện tích khu vực nghiên cứu, khu vực tiềm năng có khả năng xây dựng chiếm hơn 21,62% tương đương 130,229.97 km2. Trong đó, diện tích khu vực tiềm năng xây dựng điện gió gần bờ (khu vực có độ sâu nước dưới 20 m) gần 14.330 km2 ứng với 11% trong tổng diện tích khu vực tiềm năng, chủ yếu tập trung tại các tỉnh Quảng Ninh, TP. Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Ninh Thuận, Bình Thuận, Bà Rịa - Vũng Tàu, TP. Hồ Chí Minh, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Bạc Liêu và Cà Mau.

 Về phân bố không gian biển cho ĐGNK (nghiên cứu PECC3 +QHD8)

Diện tích tiềm năng còn lại là điện gió ngoài khơi chiếm 89% (gần 116.000 km2), cụ thể: Điện gió ngoài khơi móng cố định (độ sâu mực nước dưới 50 m) chiếm 35,23% - ứng với 45.879,40 km2, phân bố tại các tỉnh: Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, Bà Rịa - Vũng Tàu, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cà Mau.

Còn lại hơn 70.024 km2 (53,77%) diện tích khu vực có tiềm năng xây dựng các điện gió móng nổi với độ sâu mực nước từ 50 – 1.000 m, phân bố hầu như xa bờ các tỉnh, thành như Hải Phòng, Thái Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, Bà Rịa - Vũng Tàu, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng và Bạc Liêu.

Để phát triển ngành công nghiệp ĐGNK theo đúng với các chiến lược, quy hoạch của Việt Nam, các cơ quan quản lý cần xây dựng khung pháp lý cho năng lượng tái tạo và điện gió ngoài khơi như Luật và các văn bản nghị định, thông tư, tiêu chuẩn quốc gia...

Bên cạnh đó, cần khoanh định chi tiết hóa diện tích các khu vực không gian biển kỹ thuật trên bản đồ biển, thuộc các tỉnh, thuộc các đới gần bờ, ngoài khơi; không gian biển cụ thể (tỉnh, tọa độ) theo Quy hoạch điện 8 (đến năm 2030 là 6.000 MW, 2050 là 87 – 91,5 GW). Quy hoạch không gian biển quốc gia cần xem xét không gian biển cho điện gió ngoài khơi khoảng 90-100 GW (cả ven bờ và ngoài khơi) với diện tích biển (định mức 10MW/1km2) khoảng 10.000 km2. Mức tối đa có thể là 20000 km2, tức 5 MW/km2 phân theo các lô, vị trí… Trong đó, có không gian biển cho điện gió xuất khẩu và cho nội địa.

Để củng cố tính pháp lý, cần luật hóa không gian biển đối với các ngành cố định như điện gió ngoài khơi, nuôi biển, dầu khí, cáp biển, mạng internet, hàng hải, an ninh quốc phòng.

Theo Cổng TTĐT Bộ Tài nguyên và Môi trường

Tin cùng chuyên mục