,

Ngày truyền thống ngành địa chất Việt Nam (2/10): Tìm kiếm nguồn tài nguyên cho phát triển đất nước

Trải qua 76 năm xây dựng và phát triển, ngành Địa chất Việt Nam đã đạt được những thành tích quan trọng đối với sự phát triển của đất nước với biết bao công sức, hy sinh của nhiều thế hệ các nhà địa chất. Trong đó, công tác điều tra địa chất về khoáng sản đã đánh giá được tổng thể tiềm năng một số loại khoáng sản quan trọng, chiến lược, có quy mô lớn góp phần gia tăng nguồn lực tài nguyên khoáng sản quốc gia và phát triển kinh tế - xã hội.

* Hoàn thành nhiều đề án với kết quả nổi bật về tiềm năng khoáng sản

Trước yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, ngày 25/4/2011, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 02-NQ/TW về định hướng chiến lược khoáng sản và công nghiệp khai khoáng đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 (Nghị quyết 02-NQ/TW). Đây là cơ sở quan trọng để thể chế hóa, triển khai thực hiện toàn diện và đồng bộ công tác điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản, thăm dò, khai thác và chế biến khoáng sản. Nhờ đó hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về khoáng sản được tăng cường; công tác điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản được chú trọng và thực hiện hiệu quả, góp phần gia tăng tài nguyên, trữ lượng một số loại khoáng sản quan trọng, chiến lược, có quy mô lớn, đáp ứng cơ bản nhu cầu sử dụng khoáng sản trong nước, tăng dự trữ khoáng sản quốc gia và một phần xuất khẩu.

Chuẩn bị thi công lỗ khoan Đề án thành phần “Điều tra, đánh giá tiềm năng quặng đất hiếm và khoáng sản đi kèm (Urani, Thori) khu vực Tây Bắc” tháng 6/2021

Ông Trần Mỹ Dũng – Vụ trưởng Vụ Địa chất (Tổng cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam) cho biết: Thực hiện các mục tiêu đối với công tác điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản của Nghị quyết 02-NQ/TW, đặc biệt đối với công tác điều tra, đánh giá tiềm năng một số loại khoáng sản quan trọng, chiến lược, có quy mô lớn như chì, kẽm, đồng, thiếc, vàng, sắt, than, bauxit, đất hiếm, urani, cát thủy tinh, đá hoa trắng, từ năm 2012 đến năm 2020, Tổng cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam đã hoàn thành nhiều đề án đánh giá tổng thể tiềm năng khoáng sản như: Điều tra, đánh giá tiềm năng sa khoáng titan – zircon trong tầng cát đỏ vùng Ninh Thuận, Bình Thuận và Bắc Bà Rịa – Vũng Tàu; Điều tra đánh giá tổng thể tiềm năng tài nguyên quặng bauxit, quặng sắt laterit miền nam Việt Nam; Điều tra, đánh giá tổng thể tài nguyên than phần đất liền, bể Sông Hồng; Đánh giá tiềm năng quặng urani khu Khe Lốt, tỉnh Quảng Nam; Thăm dò quặng urani khu Pà Lừa-Pà Rồng, huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam; Đánh giá tổng thể tiềm năng tài nguyên quặng chì kẽm.

Những đề án đang triển khai đã có những kết quả nổi bật về tiềm năng khoáng sản một số khoáng sản quan trọng, chiến lược như: đất hiếm, vàng, đồng, thiếc, đá hoa trắng, cát thủy tinh. Điển hình là các đề án: Điều tra tổng thể về khoáng sản và hoàn thiện nền bản đồ địa chất tỷ lệ 1/50.000 vùng Tây Bắc phục vụ quy hoạch phát triển bền vững kinh tế xã hội; Đánh giá tổng thể tiềm năng đá hoa trắng miền Bắc Việt Nam; Điều tra, đánh giá tiềm năng khoáng sản cát trắng trên địa bàn các tỉnh ven biển từ Quảng Bình đến Quảng Nam.

* Xác định rõ tài nguyên, trữ lượng một số khoáng sản quan trọng, chiến lược, có quy mô lớn

Ông Nguyễn Văn Nguyên, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam cho biết: Sau năm 1955, ngành Địa chất đã tập trung vào việc điều tra, thăm dò mở rộng bể than Quảng Ninh và tất cả các cấu trúc chứa than trên toàn quốc. Kết quả dự báo trữ lượng và tài nguyên than đá của Việt Nam ở bể than Quảng Ninh tạo tiền đề cho việc hình thành và phát triển Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam. Công tác điều tra, đánh giá nhóm khoáng sản kim loại đã phát hiện nhiều vùng mỏ có quy mô tài nguyên lớn như quặng đồng Sin Quyền, Lào Cai; quặng chì - kẽm Chợ Đồn - Chợ Điền, Bắc Kạn; quặng sắt Thạch Khê, Hà Tĩnh; quặng đất hiếm tại Lai Châu, Lào Cai; quặng wolfram đa kim Núi Pháo, Thái Nguyên.

Thi công lỗ khoan Đề án thành phần “Điều tra, đánh giá quặng thiếc - wolfram Pia Oắc và khoáng sản đi kèm khu vực phía Đông Bắc đứt gãy Sông Hồng” tháng 7/2021

Trong những năm gần đây, Tổng cục đã tập trung tiến hành điều tra, đánh giá tiềm năng than nâu phần đất liền bể Sông Hồng và đã xác định được tài nguyên dự báo cho toàn bể than là hơn 212 tỉ tấn, trong đó đã xác định được tài nguyên dự tính trên diện tích 265km2 tại khu vực Đông Hưng - Tiền Hải, Thái Bình là 6,7 tỷ tấn cùng với các thông số kỹ thuật đảm bảo đủ cơ sở để thử nghiệm khai thác than bằng công nghệ khí hóa than ngầm trong tương lai; đã hoàn thành công tác điều tra, đánh giá tổng thể tiềm năng khoáng sản chì-kẽm đến độ sâu 500m; đã xác định được tổng thể tài nguyên dự tính cho bauxit Tây Nguyên là 1,8 tỷ tấn quặng tinh, cho quặng titan là 557 triệu tấn quặng tinh; đã điều tra, đánh giá tài nguyên urani và thăm dò xác định trữ lượng urani ở khu vực bồn trũng Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam. Những kết quả này đã đưa Việt Nam vào nhóm nước có trữ lượng và tài nguyên bauxit, titan và urani lớn nhất thế giới, phục vụ phát triển kinh tế lâu dài cho đất nước.

Ngoài ra, đã có những phát hiện mới về nguồn gốc và dự báo được triển vọng quặng wolfram (sheelit) quy mô lớn trên đới Sông Chảy, bước đầu đã xác định được tài nguyên quặng wolfram + thiếc tại khu vực Suối Ngần, huyện Vị Xuyên, Hà Giang là 61 ngàn tấn và hàng loạt các mỏ, điểm mỏ đang tiếp tục được điều tra, đánh giá tiềm năng.     

Bên cạnh đó, xác định vai trò quan trọng của khoáng sản phi kim trong sự phát triển của ngành hóa chất, phân bón, ngành công nghiệp xi măng, gốm sứ và vật liệu xây dựng, ngay từ khi thành lập, ngành địa chất đã tập trung điều tra, đánh giá, thăm dò các loại khoáng sản này. Đến nay đã xác định được tổng tài nguyên, trữ lượng quặng apatit là 2,6 tỉ tấn quặng phân bố tại tỉnh Lào Cai; công tác đánh giá tiềm năng của đá vôi, đá sét làm nguyên liệu xi măng được thực hiện tại các khu vực thuộc tỉnh Hà Nam, Ninh Bình, Thanh Hóa, Hòa Bình, Hải Dương, Quảng Ninh đã xác định được tổng tài nguyên dự tính trên 40 tỷ tấn đá vôi và trên 7 tỷ tấn đá sét đủ tiêu chuẩn làm nguyên liệu lâu dài cho ngành công nghiệp xi măng Việt Nam; đã khoanh định, đánh giá tài nguyên hàng trăm mỏ kaolin, đất sét trắng, felspat, cát trắng, đôlômit, đá ốp lát trên cả nước đảm bảo khả năng cung cấp nguyên liệu ổn định, lâu dài cho sự phát triển của ngành công nghiệp gốm sứ và vật liệu xây dựng.

“Cùng với kết quả của 10 năm gần đây và bề dày lịch sử trong tìm kiếm tài nguyên 76 năm qua, ngành Địa chất Việt Nam đã đánh giá tổng thể tiềm năng khoáng sản quan trọng, chiến lược, có quy mô lớn trên toàn quốc, đưa Việt Nam trở thành nước có tiềm năng lớn về các loại khoáng sản như titan, bauxit, than, urani, đất hiếm, apatit, đá hoa trắng, cát trắng”, ông Nguyễn Văn Nguyên nhấn mạnh.

Theo: http://www.monre.gov.vn/

Tin cùng chuyên mục