10:19 ICT Thứ ba, 29/09/2020

Chuyên mục tin tức

Liên kết các đơn vị

Tổng Cục Quản lý đất đai
Tổng Cục môi trường
Văn phòng
Bộ tài nguyên và môi trường
Cục Công nghệ thông tin
Cuc Do dac ban do
Tổng Cục Địa chất và khoáng sản Việt Nam
Quỹ bảo vệ môi trường
Cục Khí tượng thuỷ văn và Biến đổi khí hậu
Cục Quản lý tài nguyên nước
Cục Viễn thám quốc gia

Thống kê truy cập

1 Đang truy cập : 152

Máy chủ tìm kiếm : 1

Khách viếng thăm : 151


2 Hôm nay : 9920

thời trang nữ Tháng hiện tại : 477385

Thời trang LOZA Tổng lượt truy cập : 28220252

Trang nhất » Tin Tức » Tài nguyên - Môi trường

Biển Việt Nam sẽ trở thành thủy mạc

Thứ ba - 26/01/2010 04:57
Ảnh minh họa

Ảnh minh họa

Do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và nước biển dâng, biển Việt Nam sẽ trở thành thủy mạc, không còn cá, tôm để đánh bắt, và thử hỏi dân sẽ sống bằng gì khi công nghiệp hóa hay đô thị hóa ở các vùng này chưa đủ để đáp ứng việc làm và đời sống của họ - PGS.TS Nguyễn Chu Hồi, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Biển&Hải đảo Việt Nam chia sẻ.

Cộng đồng đại dương toàn cầu sẽ được kết nối trong một chương trình làm việc tổng thể liên quan tới khí hậu để các bên xem xét trong các cuộc thương thảo sắp tới hậu Copenhagen - PGS.TS Nguyễn Chu Hồi, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Biển&Hải đảo Việt Nam chia sẻ sau khi dự Diễn đàn về Đại dương trong khuôn khổ Hội nghị Biến đổi Khí hậu Toàn cầu tại Copenhagen (Đan Mạch) ngày 14/12/2009.

- Nước biển dâng cao, do biến đổi khí hậu (BĐKH) gây ra, sẽ ảnh hưởng rất lớn đến phát triển kinh tế- xã hội nói chung và kinh tế các vùng ven biển, đảo nói riêng. Là nhà quản lý chuyên ngành về biển, xin TS cho biết những tác động cũng như hiểm họa sẽ xảy ra?

TS Nguyễn Chu Hồi: Chúng ta đều biết theo những tính toán gần đây thì mực nước biển dâng sẽ làm ngập phần lớn khu vực đông dân cư ở các vùng ven biển, đặc biệt ở vùng ven biển châu thổ sông Hồng và sông Cửu Long vào năm 2070, đe dọa nghiêm trọng đến việc sản xuất lúa và an ninh lương thực của Việt Nam.

Nếu mưc nước biến dâng cao khoảng 90cm vào năm 2070 - theo kịch bản CSIRO (Australia) - khoảng 500.000 ha ở châu thổ Sông Hồng và 1,500.000- 2.000.000 ha ở đồng bằng sông Cửu Long và khoảng 400.000 ha rừng đước và đầm lầy ở phía Nam bị ngập.

Đó là chưa kể tới việc mặn xâm nhập, có thể tác động tới diện tích khoảng 2.200.000 – 2.500.000 ha vùng đồng bằng và ven biển. Và hệ quả là nhiều thành phố, thị xã như Hải Phòng, Vũng Tàu và nhiều nơi thuộc phía Nam sẽ bị ngập.

Như vậy, mực nước biển dâng có những tác động tiềm tàng rất lớn ở Việt Nam như những hiện tượng mà chúng ta đã và đang phải trải nghiệm như ngập lụt ở miền Trung, xói lở bờ biển, xâm nhập mặn sâu vào đất liền,…

Có thể nói, biến đổi khí hậu có tác động rất sâu rộng, đặc biệt ở các vùng bờ biển – nơi tập trung nhiều hệ sinh thái và cung cấp phần lớn năng suất sinh học sơ cấp cho phát triển sản phẩm sinh học trên toàn cầu nói chung và ở nước ta nói riêng.

Đặc biệt các vùng này lại là chỗ dựa sinh kế của khoảng 20 triệu dân, cũng là địa bàn chiến lược trong phát triển kinh tế và đảm bảo an ninh chủ quyền của các nước có biển, đảo trong đó có Việt Nam.

Trong một nghiên cứu khoa học gần đây, tôi có nhắc tới ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đối với vấn đề mưu sinh của dân ở các vùng sẽ phải chịu tác động nhiều nhất.

Ngư dân vẫn phải ra biển vì họ không còn lựa chọn nào khác, cho dù có bão hay cảnh báo về bão. Khi cuộc sống của họ gắn liền với biển, mọi biến động trên biển đều là sự quan tâm hàng đầu.

Với bờ biển hơn 3.260 km (chưa tính bờ các đảo) và hơn 3000 đảo lớn nhỏ, Việt Nam là một trong những quốc gia bị đe dọa nghiêm trọng nhất bởi hiện tượng nước biển dâng.

Trong vòng nửa thế kỷ qua, mực nước biển tại Việt Nam dâng cao thêm khoảng 20cm nhưng, có thể nói, chúng ta chưa thể định lượng được hết một cách toàn diện những gì mà dân phải gánh chịu do tác động của hiện tượng này.

Và tần suất, tính khốc liệt của những hiện tượng này ngày càng gia tăng và nhiều lúc không thể lường trước được.

Theo tôi, những hiểm họa do biến đổi khí hậu mang lại đã và đang rất cận kề với cuộc sống của người Việt Nam tại những vùng duyên hải và ở hai đồng bằng lớn.

Diện tích trồng trọt bị thu hẹp, an ninh lương thực bị đe dọa như các chuyên gia đã cảnh báo và tất nhiên ảnh hưởng trực tiếp tới kim ngạch xuất khẩu lương thực của quốc gia, xẩy ra cuộc khủng hoảng sinh thái biển và ven biển, dẫn đến hệ sinh thái bị hủy hoại, các loài mất tính thích nghi với môi trường mới, chưa kể một số loại có thể bị biến mất do buộc phải tìm nơi lưu trú khác dưới lòng biển,...

Biển nước ta sẽ trở thành thủy mạc, không còn cá, tôm để đánh bắt, và thử hỏi dân sẽ sống bằng gì khi công nghiệp hóa hay đô thị hóa ở các vùng này chưa đủ để đáp ứng việc làm và đời sống của họ.

Đó là câu hỏi mà Chính phủ Việt Nam cũng như các cơ quan liên quan của Việt Nam đang phải đối diện và tìm kiếm các giải pháp để thích ứng một cách hiệu quả trong một chế độ khí hậu mới, đã thay đổi.

- Vậy, vấn đề đặt ra hiện nay là cách quản lý và khai thác tài nguyên biển, giải pháp nào để ứng phó và thích ứng với BĐKH, nước biển dâng?

TS Nguyễn Chu Hồi: Liên quan đến biến đổi khí hậu, chúng ta đang phải đối mặt với xu thế đói và nghèo ngày càng gia tăng, cũng như tình trạng các nguồn tài nguyên thiên nhiên biển, ven biển bị tàn phá hoặc biến mất, chưa kể nguy cơ bệnh dịch tái xuất hiện ngày càng gia tăng.

Đơn giản chúng ta đang phải đối mặt với hiện tượng thủy mạc nói trên. Mực nước biển dâng làm tăng cường xói lở bờ biển, làm mất đi bãi biển gây tác động tới kịnh tế du lịch của các vùng ven biển; ảnh hưởng tới đời sống sinh giới trong đó có con người.

Môi trường nào thì sinh vật ấy, do đó khủng hoảng sinh thái đòi hỏi sự thích nghi của các loài, trong đó có loài người, chúng ta buộc phải tìm đến giải pháp thích nghi.

Năm trước, Chính phủ Việt Nam đã thông qua Chương trình Mục tiêu Quốc gia để ứng phó với biến đổi khí hậu, với ngân sách dự trù khoảng 2.000 tỷ đồng, tương đương 74 triệu USD, trong đó một nửa số tiền này sẽ từ các nguồn tài trợ quốc tế.

Nước ta nên có những giải pháp ứng phó để thích ứng đúng với đặc thù của Việt Nam và những giải pháp đó phải được lồng ghép các yếu tố địa phương một cách hiệu quả nhất.

Việt Nam là một trong những quốc gia được cộng đồng quốc tế quan tâm tại Hội nghị Thượng đỉnh về Biến đổi Khí hậu ở Copenhagen (Đan Mạch) hồi tháng 12/2009, và để những quan tâm đó được hiện thực hóa thành dự án hay hành động cụ thể, chúng ta nên có những định hướng rõ ràng cho các tổ chức quốc tế về cơ chế hỗ trợ hay hợp tác.

Ví dụ, lĩnh vực nông nghiệp, thủy sản,…cần có những giải pháp chuyển vụ cho nông ngư dân dân để thích ứng với biến đổi khí hậu; quản lý tổng hợp vùng bờ gắn với quản lý lưu vực sông ven biển và tính các các yếu tố tác động do biến đổi khí hậu và mực nước biển dâng; quy hoạch sử dụng không gian biển-ven biển cho dân trên cơ sở tính đến các kịch bản biến đổi khí hậu và mực nước biển dâng; và quan trọng nhất là làm sao để có thêm các dự án đầu tư để tiến hành thử nghiệm các hoạt động thích ứng một cách hiệu quả nhất.

Chúng ta không nên dừng lại ở các dự án nhỏ chỉ nhằm nâng cao nhận thức về biến đổi khí hậu, cũng như chỉ trông chờ hỗ trợ kỹ thuật của các tổ chức quốc tế.  Việt Nam cần một cam kết xuyên suốt và rõ ràng từ Chính phủ tới dân để các hoạt động thích ứng với biến đổi khí hậu có thể được vận hành một cách tốt nhất.

Và nếu có được cam kết chính trị như vậy, Việt Nam sẽ có được nhiều hơn nữa sự hỗ trợ của cộng đồng quốc tế trong thời gian tới. Nếu ngược lại, trong hoàn cảnh nguồn lực còn hạn chế thì cuộc chiến với biến đổi khí hậu và mực nước biển dâng sẽ chỉ như “lấy đũa chống Trời”.

- Là người duy nhất tham dự Diễn đàn về Đại dương trong khuôn khổ Tại Hội nghị Copenhagen, TS có thể chia sẻ lại những thông tin quan trọng nhất tại diễn đàn này?

Các nhà lãnh đạo trên thế giới nhấn mạnh vai trò trung tâm của đại dương trong giải quyết các vấn đề khí hậu và thiên tai khác mà các cộng đồng ven biển và trên hải đảo đã, đang và sẽ phải đối mặt.

Hoàng tử Monaco Albert II lưu ý rằng “Đại dương là nguồn thực phẩm, năng lượng và nguyên liệu cho công nghiệp. Chúng cũng là những cỗ máy khổng lồ không thể thiếu để điều chỉnh nhiệt độ nhằm giảm biến đổi khí hậu qua việc hấp thụ CO2”.

Bà Monique Barbut, Chủ tịch Quỹ Môi trường Toàn cầu (GEF) nhấn mạnh rằng “đường kết nối sức mạnh giữa đại dương và khí hậu cũng thường bị sao nhãng. Khi các bạn bảo vệ đại dương chính là bảo vệ hành tinh của chúng ta”.

Bà Angela Cropper - Phó tổng Thư ký và Phó Giám đốc Điều hành của Chương trình Môi trương Liên Hợp Quốc (UNEP) nói về axit hóa đại dương và tác động của nó “đặc biệt đối với các cộng đồng ven biển và các nền kinh tế đang phát triển nhờ cậy vào các sản phẩm thủy sản và biển đểv tồn tại và sinh kế”.

Bà cũng đề cập tới báo cáo mới đây của UNEP về các hệ sinh thái biển và ven biển như rừng ngập mặn, thảm cỏ biển, các bãi triều lầy mặn, và vai trò của chúng trong việc tách giữ cacbon.

Bộ trưởng Nghề các và biển Indonesia Fadel Muhammad nói rằng “vùng tam giác san hô là ngôi nhà quan trọng của đa dạng sinh học biển thế giới đang bị đe dọa nghiêm trọng do tác động của biến đổi khí hậu, bao gồm mực nước biển dâng, sự ấm lên toàn cầu và axit hóa đại dương”.

Ông Hilary Benn - Bộ trưởng Môi trường Thực phẩm&Nông thôn Anh quốc, cảnh báo về axit hóa đại dương và tác động tiềm năng của nó đến an ninh thực phẩm toàn cầu.

Bà Jane Lubchenco, Thứ trưởng Bộ Thương mại, kiêm Tổng cục Trưởng Tổng cục Quản lý Khí quyển&Đại dương Hoa Kỳ, nhấn mạnh rằng “Hôm nay, như chưa từng có trước đây, chúng ta hiểu thấu đáo hơn tính liên kết giữa sức khỏe đại dương và sức khỏe con người và tương tác nhiều chiều giữa đất, không khí, nước ngọt, đại dương, băng, và hoạt động của con người”.

Jacqueline McGlade, Giám đốc Cơ quan Môi trường Châu Âu, nhấn mạnh đến nhu cầu đối với một chương trình của Công ước khung Liên Hợp quốc về Biến đổi Khí hậu (UNFCCC) dựa vào thông tin khoa học biển bổ sung cho khoa học khí quyển và đất liền.

Còn tôi cho rằng “để thực thi các giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu và mực nước biển dâng đối với vùng duyên hải, biển và các đảo nhỏ ở các nước nghèo đang pháp triển cần có các hành động tập thể, hành động đơn lẻ một nước sẽ chả khác nào làm một việc lấy đũa chống trời, cho dù sự chủ động là cần thiết”.

Diễn đàn có sự tham dự của 320 nhà lãnh đạo từ các chính phủ, các cơ quan của Liên Hợp Quốc, các tổ chức phi chính phủ, khoa học và các nền công nghiệp từ 40 quốc gia trên thế giới. Diễn đàn đã nhấn mạnh đến vai trò trung tâm của đại dương trong biến đổi khí hậu và một sự thật là gần 50% dân số thế giới đang sống ở vùng duyên hải và trên các đảo ven bờ sẽ phải hứng chịu những rủi ro khôn lường do việc đại dương ấm lên, mực nước biển dâng, các sự kiện thời tiết bất thường và axit hóa đại dương.

Tác giả bài viết: TTCNTT

Nguồn tin: VFEJ.VN

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Theo dòng sự kiện

Xem tiếp...

Những tin mới hơn

 

dịch vụ SEO tổng thể website di dời dây chuyền sản xuất sửa nhà chuyên nghiệp nồi hơi tầng sôi dong phuc Máy làm đá viên may lam da Health Magazine may lam da vien song chắn rác cho thuê xe tải xây nhà hà nội ống nhựa gân xoắn hdpe may lam da